Welcome to our Website !





Xin phép được hỏi quý vị,
“Cơ-đốc-nhân có nghĩa là gì?”

Thần học gia J.I. Packer cho rằng câu trả lời ý nghĩa nhất là “người có Đức Chúa Trời làm cha mình.”

                 Ông viết:


                “Nếu bạn tóm tắc tất cả sự dạy dỗ của Tân ước với một câu, thì mình có thể nói nó là sự bày tỏ về liên hệ làm cha của Đấng Tạo Hoá Chí Thánh. Cũng tương tựa vậy, mình tóm tắc tất cả giáo lý Tân ước khi diễn tả đó là sự hiểu biết rằng Thượng đế là Cha mình. Nếu mình muốn biết một người có hiểu rõ Cơ-đốc-giáo chăng, thì hãy tìm xem người đó suy nghĩ đến lượng độ nào rằng mình là con Chúa, và có Ngài là Cha. Nếu ý tưởng đó không thúc đẩy và tác động trên sự thờ phượng, cầu nguyện, và quan điểm sống của người, thì nghĩa là kẻ ấy không hiểu biết Cơ-đốc-giáo rõ lắm. Vì tất cả những gì Đấng Christ dạy, tất cả điều gì khiến Tân Ước là Tân, tốt lành hơn Cựu Ước, và mọi đặc điểm khác biệt so với Do-thái giáo, được tóm tắc ở sự hiểu biết về Thượng Đế là Cha. “Cha” là danh của Đức Chúa Trời đối với người Cơ-đốc.”

                Tác giả William Barclay cũng đồng ý rằng Chúa Giêsu đã tóm tắc sự dạy dỗ của Ngài về Đức Chúa Trời qua từ “Cha”. Đây cũng là cách xưng hô mà Ngài dạy các môn đồ xử dụng. Nếu vậy thì thật là quan trọng để mỗi Cơ-đốc-nhân thấu hiểu thể nào là người có Đức Chúa Trời làm cha mình.

                Trước khi suy gẫm về ý nghĩa thể nào là con của Đức Chúa Trời, chúng ta cũng cần giải đáp hai câu hỏi thông thường được nêu ra. Có lẽ một vài quý vịsẽ thắc mắc: “Tại sao Đấng Tạo Hoá lại chỉ là Cha của Cơ-đốc-nhân? Ngài phải là Cha của cả nhân loại chứ?” Chính Kinh thánh dường như xác nhận cương vị Đức Chúa Trời là Cha cho cả nhân loại vì ở Cựu-ước có chép “không phải tất cả chúng ta đều có cùng một Cha sao? Có phải chỉ có một Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên chúng ta không?” (Malachi 2:10). Trong Tân-ước, Phao-lô đồng ý với một thi sĩ Hy-lạp, “Chúng ta là dòng dõi của Ngài.” (Công Vụ 17:29) Vì vậy theo một khía cạnh, Đấng Tạo Hoá là Cha của cả nhân loại này. Chúng ta cũng cần lưu ý rằng văn mạch của hai câu trên nhấn mạnh sự xét đoán của Đức Chúa Trời cũng như trách nhiệm con người phải tìm kiếm, thờ phượng và vâng phục Ngài. Nếu xét trên trách nhiệm thì nhân loại đã phủ nhận liên hệ cha con này vì chẳng tìm kiếm, thờ phượng hay vâng phục Đấng Tạo Hoá (Rôma 3:10-18). Trên thực tế, một người sinh ra tuy nhận sự sống từ Đức Chúa Trời nhưng chưa hẳn có liên hệ thân ái là con cái của Ngài.

                Câu hỏi thứ hai thông thường được nêu ra là “Dựa trên căn bản nào mà một Cơ-đốc-nhân có thể nhận Đức Chúa Trời làm Cha mình?” Theo niềm tin Cơ-đốc, đặc ơn làm con Thượng Đế được dựa trên hai chân lý: Chúa Giêsu là Con của Đức Chúa Trời và Cơ-đốc-nhân bởi niềm tin nơi Chúa Giêsu được nhận làm con nuôi của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12). Bốn sách Phúc Âm là lời chứng quả quyết rằng Đức Giêsu là Con Đức Chúa Trời.

                Cả bốn sách đều đặt câu hỏi cho độc giả: “Đức Giêsu là ai?” Chính Chúa Giêsu qua sự giảng dạy nhận mình là Con Đức Chúa Trời và vì vậy mà “người Do Thái càng rắp tâm sát hại Đức Giêsu, vì không những Ngài đã phạm ngày Sa-bát mà còn gọi Đức Chúa Trời là Cha, tự cho mình bình đẳng với Đức Chúa Trời.”(Giăng 5:18) “Đức Giêsu là ai?” là câu hỏi hệ trọng khởi đầu của hành trình theo Ngài. Phierơ, đại diện cho các môn đồ cũng như tất cả kẻ tin kính xưa và nay, đã tuyên xưng, “Thầy là Chúa Cứu Thế (Đấng Christ)” (Mác 8:29) Và chính Đức Chúa Trời trên núi hoá hình (Mathiơ, Mác, và Luca) đã chứng nhận từ đám mây, “Đây là Con yêu dấu của Ta, hãy nghe lời người.” (Mác 9:7) Còn sách Giăng khởi đầu với sự hiện hữu của Đức Giêsu Con Một của Đấng Tạo Hoá từ trước vô cùng rằng:

                Trước khi sáng tạo vũ trụ đã có Ngôi Lời (Chúa Giêsu), Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ngay từ ban đầu Ngôi Lời đã ở cùng Đức Chúa Trời. Ngôi Lời đã giáng thế làm người, cư ngụ giữa chúng ta, tràn đầy ân sủng và chân lý. Chúng ta đã tận mắt chiêm ngưỡng vinh quang Ngài, là vinh quang của Con Một đến từ Cha. Giăng 1:1-2,14)

                Tin lành cho nhân loại là Chúa Giêsu, theo ý chỉ của Cha, đã đến thế gian để ban cho chúng ta quyền phép để trở nên con nuôi của Đức Chúa Trời. Đây là sứ điệp chính của Hội thánh: “nhưng những ai tiếp nhận Ngài, nghiã là tin danh Ngài, thì Ngài ban cho quyền trở nên con Đức Chúa Trời.” (Giăng 1:12) Qua Đức Chúa Giêsu, Đức Chúa Trời nhận chúng ta làm con cái Ngài. Quý vị đã được làm con cái Đức Chúa Trời chưa?

                Trở lại vấn đề chính của chúng ta, có Đức Chúa Trời là Cha có ý nghĩa gì? Chúng ta noi theo ý trên suy gẫm về liên hệ giữa Thượng Đế và Chúa Giêsu rồi từ đó rút ra ý nghĩa cho chính đời sống mình.

I. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA NÓI LÊN MỘT LIÊN HỆ THÂN ÁI GIỮA NGÀI VÀ CHÚA GIÊSU.

                Chúa Giêsu từng nói cho các môn đồ rằng: “Như Cha đã yêu Ta thể nào thì chính Ta cũng yêu các con thể ấy. Hãy cứ ở trong tình yêu Ta. Nếu các con vâng giữ điều răn của Ta thì các con sẽ còn ở trong tình yêu của Ta cũng như Ta đã giữ các điều răn của Cha Ta và còn ở mãi trong tình yêu Ngài.” (Giăng 15:9-10) Vậy, là con của Đức Chúa Trời nghĩa là được yêu thương bởi Ngài. Sứ đồ Giăng đã reo mừng: “Các con hãy xem, Đức Chúa Cha đã yêu thương chúng ta dường nào đến nỗi chúng ta được gọi là con cái Đức Chúa Trời, và thật vậy, chúng ta là con cái Ngài. (1 Giăng 3:1)

                Cho nên câu chuyện người con trai hoang đàng được Hội thánh quý mến nhất chẳng phải là một ngẫu nhiên. (Luca 15:11-32) Chuyện này bày tỏ hình ảnh của Thượng Đế như một người cha yêu thương nhân từ sẳn sàng tha thứ cho đứa con lầm lối khi ăn năn quay về nhà cha.

                Chúng ta hãy suy gẫm luôn về tình yêu diệu kỳ từ Cha Thánh. Đó là lời cầu xin của Sứ đồ Phaolô cho chúng ta:

                Tôi c?u xin, bởi đức tin, Chúa cứu Thế ngự trong lòng anh chị em để khi đâm rể và lập nền trong tình yêu thương, anh chị em cũng đủ sức cùng tất cả thánh đồ hiểu thấu chiều rộng, chiều dài, chiều cao, chiều sâu của tình yêu ấy. Và để biết được tình yêu của Chúa Cứu Thế, là tình yêu vượt quá sự hiểu biết, anh chị em sẽ được đầy dẫy mọi sự sung mãn của Đức Chúa Trời. Êphêsô 3:17-19

                Khi tâm trí chúng ta bén rễ vào tình yêu thương của Đức Chúa Cha thì mình sẽ nhận được sự sung mãn của Ngài. Để bén rễ, chúng ta hãy suy nghĩ về tình yêu thương tuyệt vời từ Cha thể hiện nơi thập tự giá. Chúng ta hãy suy nghĩ về những ân phước lớn nhỏ tràn ngập đời sống mình. Chúng đến từ lòng yêu thương của Cha. Ngay cả những khó khăn sửa phạt đến là bởi tình yêu thương (Hêbơrơ 12:7). Chúng đến từ lòng yêu thương của Cha. Bén rễ vào tình yêu thương Ngài mang ba phước hạnh tới cùng chúng ta. Thứ nhất, chúng ta mất đi bao mặc cảm tự ti vì mình được Đức Chúa Trời chọn lựa, chấp nhận và yêu quý. Thứ hai, chúng ta mất đi sự lo sợ về xui xẻo rũi ro mà kiêng kỵ là triệu chứng. Thật vậy, mặc cảm tự ti và niềm lo sợ đã cầm tù bao người. Và cuối cùng, tình yêu thương của Chúa giúp chúng ta tăng trưởng để biết yêu thương người khác.

                Một quần đảo nọ có lệ cưới đòi hỏi của hồi môn từ chàng rễ. Thông thường thì của hồi môn là hai hoặc ba con bò và nếu cô dâu xinh đẹp giỏi dang thì có thể được bốn hay năm con bò. Ở đó có một chàng, tên Johnny, nỗi tiếng khôn ngoan và đã làm giàu nhờ biết mặc cả khi buôn bán. Anh trở về làng tìm vợ và cả đảo xôn xao vì biết rằng anh hẳn lấy cô gái xinh đẹp nhất vì giàu đủ để lấy vợ giá trị năm con bò. Trong làng đó có một cô tên là Mahana. Nàng Mahana nhút nhát tự ti và cha cô nghĩ rằng mình sẽ may mắn nếu được chỉ hai con bò làm của hồi môn. Khi Johnny đến hỏi cưới Mahana thì nhiều người cho rằng chàng đang tìm vợ rẽ. Vì vậy, cha nàng đã thất kinh khi chàng ra giá của hồi môn là tám con bò, chuyện chưa hề có trong lịch sử đảo! Hôm sau, chàng Johnny thật đã mang đến tám con bò và lễ cưới được tổ chức. Rồi hai vợ chồng về đảo bên cạnh cư ngụ. Vài tháng sau, một người quen cô Mahana đến thăm thì ngạc nhiên vì kìa, cô tự ti nhút nhát đã trở thành một người vợ xinh đẹp, tươi nở như hoa khác hẳn khi xưa. Người quen này liền hỏi điều gì khiến cô thay đổi như vậy, anh Johnny đã trả lời, “tôi vẫn luôn biết Mahana đẹp, nhưng tôi muốn nàng hiểu mình là người nữ giá trị cao tám bò. Nhiều điều làm người phụ nữ đẹp nhưng hơn hết là cái nhìn của nàng về chính mình.” Người quen buột miệng rằng, “cha nàng đã xem nàng chẳng ra gì.” Johnny tiếp, “Giờ thì nàng biết mình cao giá hơn hết mọi người nữ trên đảo.”

                Điều mà khiến Mahana thay đổi là tình yêu quý trọng của chồng cho mình. Kìa tình yêu Cha Thánh thật là hơn bội phần cho mỗi chúng ta. Hãy giữ mình trong tình yêu Ngài thì chúng ta sẽ thay đổi cái nhìn về chính mình. Và sẽ từ người nhút nhát tự ti trở thành một người dạn dĩ mạnh mẻ biết yêu thương người khác. Đó là kinh nghiệm của Phierơ, của Phaolô, của Mary và của bao nhiêu con cái Chúa từ xưa đến nay. Giữ mình trong tình yêu thương của Cha sẽ giúp chúng ta mạnh dạn đến với Chúa và đến với người. Giữ mình trong tình yêu Ngài sẽ giúp chúng ta yêu thương Ngài hơn nữa. Thật, chúng ta yêu thương vì Đức Chúa Trời đã yêu thương chúng ta trước. (1 Giăng 4:19)

                Đức Chúa Trời là Cha nhấn mạnh một liên hệ thân ái giữa Ngài và chúng ta.

II. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA CŨNG CÓ NGHĨA LÀ THẨM QUYỀN NGÀI Ở TRÊN CHÚNG TA.
        Vì Đức Chúa Trời là Cha nên Chúa Giêsu luôn luôn vâng phục Ngài. Chúa Giêsu khẳn định, “Ta từ trời xuống chẳng phải để làm theo ý riêng Ta, nhưng theo ý Đấng đã sai Ta.” (Giăng 6:38) Là Cơ-đốc-nhân chúng ta phục dưới thẩm quyền Cha Thánh, Đấng Tạo Hoá mà cũng là Đấng Cứu Chuộc mình. Thật, chúng ta không thuộc về mình nữa vì đã được chuộc với giá rất cao nơi thập tự giá (1 Côrinhtô 6:19-20).

        Buổi du ngoạn nọ suýt chút nữa trở thành bi kịch khi một em nhỏ chơi ven hồ chợt chân té xuống nước. Nghe tiếng kêu cứu, người làm vườn nhảy xuống nước cứu em nhỏ khỏi chết đuối. Em nhỏ đó là Winston Churchill, sau này làm thủ tướng Anh quốc vào thế chiến thứ hai. Cha mẹ Churchill cám ơn người làm vườn và hỏi ông xem điều gì họ có thể làm để trả ơn. Người làm vườn e ngại nhưng cuối cùng nói, “Tôi ao ước con tôi được đi đại học và trở nên một bác sĩ.” Cha mẹ của Churchill hứa sẽ làm điều đó.
        Nhiều năm sau, trong khi Winston Churchill làm thủ tướng, ông bị viêm phổi nghiêm trọng. Bác sĩ giỏi nhất của nước được triệu tập đến để chửa trị và thủ tướng được lành bệnh. Vị bác sĩ đó là Alexander Fleming, người khám phá ra thuốc Penicillin.Ông cũng chính là người con của thợ làm vườn đã cứu Churchill khi xưa. Sau này, Thủ tướng Churchill đã nói, “Thật hiếm mà một người hai lần nợ ơn cứu sống với cùng một kẻ.” Đối với Đức Chúa Trời, chúng ta cũng đã hai lần nhận sự sống từ Ngài. Chúng ta nợ ơn tạo hoá của Ngài và cũng nợ ơn cứu chuộc qua Con Độc Sanh của Ngài nữa. Vì vậy, thẩm quyền của Cha Thánh trên đời sống mình thật xứng đáng.

                Làm sao để chúng ta đầu phục dưới thẩm quyền Ngài? Tất cả những nguyên tắc, mệnh lệnh và điều răn từ Kinh thánh giúp chúng ta phục dưới thẩm quyền Ngài. Như Chúa Giêsu, chúng ta cần nói, “Ta sống chẳng phải để làm theo ý riêng mình, nhưng theo ý Đấng đã tạo dựng và cứu chuộc mình.”

                Có chiếc xe lửa nọ, tự nhủ rằng: “Thật là bực dọc với cái đường rầy hạn hẹp này. Mình chỉ được đi chỗ nó đi. Để tự do làm gì thì làm, mình hãy rời bỏ nó.” Rồi xe lửa nhảy trật đường rầy, trược đổ và cháy rụi. Đó là bi kịch của một số cuộc đời.

                Sách I Côrinhtô 6:12 giúp chúng ta thấy hai song sắt của đường rầy thẩm quyền Chúa:

                        Tôi được phép làm mọi sự, nhưng không phải mọi việc đều có ích. Mọi sự tôi được phép làm nhưng tôi sẽ không để bị nô lệ cho điều gì cả. I Côrinhtô 6:12

                Song sắt thứ nhất là “làm những điều có ích (xây dựng)”. Mà chúng ta biết rằng “sự hiểu biết sinh kiêu ngạo, còn tình yêu thương xây dựng” (1 Côrinhtô 8:1). Vậy chúng ta có thể gọi song sắt này là song yêu thương. Đây cũng được gọi là luật của Đấng Christ như Sứ đồ Phaolô dạy ở Galati 6:2, “Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh chị em sẽ chu toàn luật của Chúa Cứu Thế.”

                Song sắt thứ hai là “không để bị nô lệ cho điều gì cả.” Chúng ta có thể gọi song này là song tự do. Sứ đồ Phaolô cũng viết rằng, “Chúa là Thánh Linh,Thánh Linh của Chúa ở đâu, ở đó có tự do”(II Côrinhtô 3:17).

                Tóm lại, chúng ta sống dưới thẩm quyền Chúa khi xây dựng lẫn nhau trong tình yêu thương và đừng để mình bị nô lệ bởi bất cứ điều gì. Vậy, hai câu hỏi mình cần đặt hằng ngày là “điều ích lợi để làm là gì?” và “tôi có nô lệ vào điều này chăng?” Aùp dụng hai câu hỏi này sẽ giúp mình nhận thức được sự tự do yêu thương dưới thẩm quyền của Cha Thánh. Dưới thẩm quyền Chúa là cuộc sống tự do và yêu thương.

III. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA CŨNG CÓ NGHĨA LÀ CHÚNG TA SẼ ĐƯỢC BAN CHO SỰ VINH HIỂN.

        Chúa Giêsu vốn từ đầu ở cùng Đức Chúa Trời và sở hữu sự vinh hiển cao trọng của Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì vậy khi sửa soạn hoàn thành sứ mạng cứu thế, Chúa Giêsu đã cầu nguyện, “Thưa Cha, giờ đã điểm, xin tôn vinh Con của Cha để Con cũng tôn vinh Cha . . . Con đã tôn vinh Cha trên đất, đã hoàn tất công việc Cha giao Con làm, nên bây giờ thưa Cha, xin chính Cha tôn vinh Con trước mặt Cha bằng vinh quang mà Con vốn có lúc ở cùng Cha, trước khi vũ trụ hiện hữu.” (Giăng 17:1-5)
Tiên tri Êsai đã nói về sự vinh hiển này khi gọi tên Đấng Christ là “Cố vấn Kỳ Diệu, Đức Chúa Trời Toàn Năng, Cha Đời Đời, Hoàng Tử Bình An.” (Êsai 9:5) Và ngày Chúa Giêsu trở lại thì được diễn tả cách huy hoàng trong sách Philíp 2:6-11, phân đoạn mà nhiều học giả cho rằng được trích từ một bài thánh ca Cơ-đốc sơ khai:


                         Vì Ngài vốn có bản thể Đức Chúa Trời
                         Nhưng không coi sự bình đẳng với Đức Chúa Trời là điều phải nắm giữ.
                         Nhưng chính Ngài tự bỏ mình,
                         Mang lấy bản thể của một tôi tớ,
                         Trở nên giống như loài người, có hình dạng như một người.
                         Chịu vâng phục cho đến chết,
                         Thậm chí chết trên thập tự giá.
                         Chính vì thế, Đức Chúa Trời đã tôn Ngài lên,
                         Và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh hiệu;
                         Để khi nghe đến danh của Đức Giêsu, mọi đầu gối
                         Trên trời dưới đất, bên dưới đất đều phải quỳ xuống,
                         Và mọi lưỡi phải tuyên xưng Chúa Cứu Thế Giêsu là Chúa
                         Mà tôn vinh Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha.

Nguyên văn “Đức Chúa Trời đã tôn Ngài lên” là hyperypsosen, có thể được dịch là “tôn cao tột bực”. Đó là mức độ của sự vinh hiển Đấng Christ. Mà chúng ta cũng sẽ có phần gia sản này vì mình là con cái của Đức Chúa Trời. Sứ đồ Phaolô khẳn định, “Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: Kẻ kế tự Đức Chúa Trời và kẻ đồng kế-tự với Đấng Christ, miễn chúng ta chịu đau-đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh-hiển với Ngài.” (Rôma 8:17) Sự vinh hiển của con cái Chúa sẽ được bày tỏ khi Chúa Giêsu trở lại (Côlôse 3:4). Khi tấm màn được kéo khỏi, kìa sự vinh hiển cao trọng của con cái Chúa sẽ sáng chói, mà có lẽ chính họ cũng không ngờ. Đây là niềm hy vọng thuộc về mọi kẻ tin kính.

                Ngày hôm nay con cái Chúa có thể nhìn xem bên ngoài thật khiêm nhường thấp hèn.Chúng ta có thể vật lộn nhiều với cuộc sống, lam lủ với sinh nhai. Một hình ảnh đẹp không phai cho tôi là một người tín đồ nghèo đến thờ phượng và cẩn thận để dưới chân mình chiếc cân, phương tiện mưu sinh của người. Chính Chúa Giêsu đã thấy sự quý trọng của người đờn bà goá dâng hai đồng xu. Thế gian này thấy họ thật khiêm nhường mà kìa sự vinh hiển của họ “muôn vật ước-ao nóng-nảy mà trông-đợi con-cái Đức Chúa Trời được bày ra.” (Rôma 8:19)

                Nhiều đầy tớ, con cái Chúa đang gặp khó khăn hoạn nạn trong cuộc sống. Có những đau đớn, tổn thương chúng ta đang chịu với Đấng Christ. Nếu nặng nề bây giờ thì bên kia sông trường sinh, chúng ta sẽ như Phaolô xem “sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô-lượng vô-biên.” (2 Côrinhtô 4:17)

                Sự thật là thế gian này chẳng phải là quê hương của con cái Chúa. Thế gian này sẽ chẳng thoả mãn được mọi khao khát của mình. Vì vậy, tiên tri Giêrêmi chỉ muốn Đức Giêhôva là phần, là cơ nghiệp cho ông. (Ca-thương 3:24) Chúng ta là lữ khách đang trên đường về thiên quốc. Kìa nhà của chúng ta được diễn tả:

                Đoạn tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa. Tôi cũng thấy thành thánh, là Giêrusalem mới, từ trên trời mà xuống, sửa-soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang-sức cho chồng mình. Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: “Này, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng. Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than-khóc, kêu-ca, hay là đau-đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi. (Khải huyền 21:1-4)

                Nơi quê hương thật, mọi tổn thương đau buồn và sợ hải sẽ không còn nữa. Nơi quê hương thật, chúng ta sẽ được chìm đắm trong vinh hiển của Đức Chúa Trời. Đây là lời hứa chắc chắn cho những kẻ kế tự của Tin Lành Đấng Christ. Để chúng ta nắm vững lời hứa, Đức Chúa Trời đã ban Đức Thánh Linh là của cầm về cơ-nghiệp vinh hiển sau này. Hãy để hy-vọng này giữ chúng ta trong Chúa, giải thoát chúng ta khỏi nhiều đeo đuổi hư không, và cho chúng ta sự thoả lòng.

                Cơ-đốc-nhân là con của Cha Thánh. Cuộc đời Cơ-đốc-nhân được bày tỏ ở mọi khía cạnh trong liên hệ thân ái này. Thật suốt cuộc đời này, chúng ta sẽ tăng trưởng trong sự hiểu biết và tri ơn về thế nào là con cái của Đức Chúa Trời. Nguyện chúng ta biến đổi trong tình yêu thương, thẩm quyền và sự vinh hiển của Cha Thánh. Amen.



;                    Mục sư Tiến Sĩ Trịnh Văn Khánh. Quản Nhiệm Hội Thánh Tin Lành Trưởng Nhiệm Ân Điển Sacramento, California.